Cách
đây 5 năm, Bộ Giáo dục-Đào tạo chủ trương tăng quy mô đại học, trong
khi vẫn khuyến khích đào tạo trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Cách
làm đó được giải thích là nhằm tạo sự cân đối trong nguồn nhân lực cho
nền kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề là nhu cầu học tập của nhân dân trong
một nền kinh tế hội nhập phát triển, mà thiết thực nhất là học nghề,
lại chưa được quan tâm đúng mức. Theo đề án “Đổi mới và phát triển dạy
nghề đến năm 2020”, thì năm 2010 sẽ có đào tạo nghề ở bậc đại học. Học
viên sau khi ra trường sẽ có bằng kỹ sư thực hành. Đây là bước đột phá
được kỳ vọng là sẽ thu hút học sinh học nghề. Nhưng còn có nhiều ý kiến
khác nhau về đề án này.

Nhiều ý kiến cho rằng, do định kiến, trọng “thầy”
hơn “thợ”, nhưng cuộc sống đã và đang minh chứng là cần nhiều “thợ” hơn
“thầy”. Vấn đề nằm ở tư duy giáo dục đào tạo. Trên bình diện tự nhiên
và xã hội thì phải làm “thợ” tốt mới có thể làm “thầy”. Còn theo mạch
tư duy thì thầy vẫn là thầy, thợ vẫn là thợ. Vì thế, nếu đề án không
đưa ra được bước đi và cách làm cụ thể thì vẫn dừng lại ở mức độ “thầy”
“không ra thầy, thợ chưa ra thợ”.
Về định lượng, đề án cho thấy, năm 1998 có 1/2 triệu
người học nghề, năm 2008 là 1,5 triệu, tăng 2,9 lần. Bộ Lao động Thương
binh-Xã hội đã phối hợp với Bộ Giáo dục-Đào tạo xây dựng đề án đổi mới
và phát triển dạy nghề đến năm 2020. Theo đó, giai đoạn 2009 – 2015 xây
dựng và hoàn thiện chương trình khung dạy nghề, tiếp thu những công
nghệ tiên tiến để áp dụng vào thực tế ở nước ta, giảm thuê lao động
chất lượng cao của nước ngoài, tăng xuất khẩu lao động có kỹ thuật cao.
Với kinh phí dự kiến hơn 41 tỷ đồng, đề án hướng tới mục tiêu giai đoạn
từ nay đến năm 2020 dạy nghề cho 24,5 triệu người, trong đó đào tạo
trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề và kỹ sư thực hành là gần 6
triệu người. Giai đoạn từ nay đến 2020 đào tạo nghiệp vụ sư phạm dạy
nghề và kỹ năng nghề cho 40.000 người để thành giáo viên dạy nghề.
Cần nhìn nhận đúng về học nghề
Đó là định lượng, nhưng định tính và thực tế không dễ gì thực hiện được những con số, chỉ tiêu ấy.
Thứ nhất, về tâm lý xã hội, hay nói cách khác là
định kiến. Có người nói là “cạm bẫy bằng cấp”. Nhiều người khuyến cáo
“đại học không phải con đường duy nhất”. Ý kiến khác nhau như thế mà
vẫn tạo ra một tâm lý chung là chuộng bằng cấp, thích làm thầy hơn làm
thợ.
Thứ nữa là thị trường lao động có những khắt khe để
đánh giá ngạch bậc nên không thể chạy theo bằng cấp được. Chương trình
đạo tạo kỹ sư thực hành vì thế phải gắn chặt với nhu cầu thị trường.
Thêm nữa, đây không phải vấn đề mới, kể cả ở nước ta
và trên thế giới. Trên thực tế là rất nhiều thợ bậc cao của Việt Nam đã
xuất khẩu ra làm thuê cho nước ngoài, nhưng khi cần người có cấp bậc ấy
vào công việc ở chính trong nước thì lại phải thuê của nước ngoài. Còn
trên thế giới, việc đào tạo nghề ngắn hạn ở bậc đại học đã xuất hiện
cách đây 40 năm do nhu cầu của sự phát triển các ngành công nghiệp và
để thích ứng với sự phát triển các lĩnh vực công nghệ.
Ngày nay, trong khuynh hướng hòa nhập, giáo dục Đại
học không chỉ là động cơ phát triển kinh tế và nâng cao giá trị của các
khu vực sản xuất trong nước, mà còn là công cụ phát triển xã hội và
nghề nghiệp. Các ngành nghề đào tạo là sự giao thoa giữa chương trình
giáo dục cơ bản và chương trình dạy nghề. Ở đây, sự liên kết giữa doanh
nghiệp với nhà trường mang đến cho học viên những kỹ năng thông qua
công nghệ mà họ ứng dụng. Và ngược lại, doanh nghiệp cũng tiếp thu được
những kiến thức khoa học và thông tin về các lĩnh vực công nghệ mới từ
nhà trường.
Một bước tiếp theo nữa là trong các ngành nghề xã
hội, kể cả giáo dục đào tạo, báo chí truyền thông… thì những kiến thức
cơ bản mang tính hàn lâm cần được chuyển tải đến người tiếp thụ từ
chính những kỹ năng thực hành hàng ngày, trong từng tình huống cụ thể.
Chỉ đến lúc đó mới có thể nói về những khái niệm như đại học nghề.
Nâng bậc đào tạo nghề, vì thế, không phải chỉ trông
chờ vào một đề án, hay một tên gọi, một khái niệm mới, mà cần thay đổi
trước hết từ tư duy của những người làm việc này, mới có thể góp phần
chuyển biến cách nhìn nhận và xóa bỏ định kiến trong thực tế cuộc sống,
xã hội./.